Thạch tiên đào

0
782
Thạch tiên đào là loài hoa thuộc họ lan có công dụng chữa bệnh viêm amidan, suy nhược thần kinh, bằng cách sắc lấy nước uống.
Tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả nhiều sách về cây thuốc Việt Nam, cho biết thạch tiên đào còn gọi là lan tục đoạn. Tên khoa học là Pholidota chinensis Lindl, thuộc họ lan orchidaceae.

Cây này có thân rễ to từ 4 đến 10 mm, dài đến 20 cm. Rễ dài, có lông, thân củ (giả hành) cách nhau, hình thoi, cao từ 4 đến 6 cm, to một cm. Lá ngắn, dài khoảng 18 cm, rộng từ 2,5 đến 6 cm. Hoa dài từ 10 đến 25 cm xuất hiện ở giữa các thân củ, phần trên có nhiều hoa nhỏ chừng 2 cm, các lá đài và cánh hoa màu vàng nâu, trong khi cánh môi lại trắng tinh, cột có nắp vàng.

Loài lan này bám trên các cây gỗ trong rừng thưa, ở độ cao từ 800 đến 1.600 m, ra hoa vào tháng 3 đến tháng 7. Thạch tiên đào mọc nhiều ở Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Quảng Trị, Khánh Hòa, Kon Tum, Lâm Đồng, Ninh Thuận. Ngoài ra còn có ở Mianma, Trung Quốc.

Đông y dùng toàn cây này làm thuốc. Người ta hái hoa vào mùa hạ thu, rửa sạch, loại bỏ tạp chất. Đem giả hành (thân củ) trụng qua nước sôi, phơi khô. Cây có vị ngọt, nhạt, tính mát, dưỡng âm thanh nhiệt, nhuận phế chỉ khái, bình can giáng hỏa.

Phân tích dược lý cho thấy thạch tiên đào chứa triterpen như laccerol, cyclopholidonol, cyclopholidone. Thường dùng để trị viêm phế quản, ho khan, viêm họng, viêm amidan cấp, lao phổi với khái huyết, loét dạ dày, choáng váng, đau đầu, di chứng sau đụng giập mạnh và suy nhược thần kinh. Liều dùng khô từ 10 đến 15 g, tươi từ 30 đến 60 g.

Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu một số bài thuốc từ cây thạch tiên đào như sau:

Di chứng sau khi chấn động não, đau đầu chóng mặt

– Thạch tiên đào 15 g, bạch chỉ 10 g, trứng gà một quả (dùng kim châm hơn 10 lỗ). Cho tất cả vào nồi nấu lấy nước uống và ăn trứng.

– Thạch tiên đào 60 g, trứng gà một quả (dùng kim châm 10 lỗ), hầm lấy nước uống, ăn trứng, uống nước sau bữa ăn một giờ.

Suy nhược thần kinh

Thạch tiên đào, dây hà thủ ô, mỗi vị 30g, sắc uống.

Viêm amidan cấp

Thạch tiên đào tươi 30 g, giang bản quy tươi 60 g, nhất chi hoàng hoa tươi 15 g. Tất cả đem sắc lấy nước uống.

CÂY LAN TỤC ĐOẠN TRUNG QUỐC – PHOLIDOTA CHINENSIS

Loài: Loài P. Chinensis

Tên khoa học: Pholidota Chinensis Lindl

Mô tả: Phong lan có thân rễ to 4-10mm, có thể đến 20cm, rễ dài, có lông, giả hành cách nhau, hình thoi, cao 4-6cm, to 1cm, mang mỗi cái một cặp lá ngắn nhưng khá rộng, dài 18cm, rộng 2,5-6cm. Bông hoa dài 10-25cm xuất hiện ở giữa các giả hành mới, ở phần trên các lông này có nhiều hoa nhỏ, 2cm; các lá đài và cánh hoa có màu vàng nâu, trong khi cánh môi lại trắng tinh, cột có nắp vàng.

Ra hoa tháng 3-7, có quả tháng 2.

Bộ phận dùng: Giả hành – Psendobulbus Pholidotae.

Nơi sống và thu hái: Loài của Nam Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta cây mọc ở vùng núi cao 1200-1500m từ Lào Cai (Sapa) Vĩnh Phú (Tam Ðảo) qua Quảng Trị đến Kontum, Lâm Ðồng (Ðà Lạt). Cũng thường được trồng trong chậu để làm cảnh vì cây có nhiều hoa, lại có mùi thơm. Thu hái quanh năm. Dùng tươi, hoặc đồ rồi phơi khô dùng dần

Tính vị, tác dụng: Vị ngọt nhạt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt dưỡng âm, hoá đàm chỉ khái, tư âm giải độc, lương huyết giảm đau, nhuận phế sinh tân.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ðược dùng trị

1. Viêm phế quản cấp và mạn tính, ho khan, viêm họng mạn tính.

2. Viêm amygdal cấp, đau răng.

3. Lao phổi với khái huyết, lao, bệnh hạch bạch huyết thể lao.

4. Loét dạ dày, tá tràng, trẻ em suy dinh dưỡng.

5. Choáng váng, đau đầu, triệu chứng sau dụng giập mạnh.

6. Suy nhược thần kinh. Dùng 15-30g dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài trị viêm xương tuỷ mạn tính, đòn ngã tổn thương. Giã cây tươi thêm rượu dùng đắp.

Ðơn thuốc:

1. Suy nhược thần kinh: Lan tục đoạn, Dây Hà thủ ô đỏ, mỗi vị 30g sắc uống.

2. Viêm amygdal cấp: Lan tục đoạn tươi 30g, giang bán quy tươi 60g, Nhất chỉ hoàng hoa tươi 15g sắc uống.

Vì một cộng đồng sống khoa học và khỏe mạnh. Nơi chia sẽ những kinh nghiệm tác dụng các cây thuốc nam và những lối sống khoa học hiện đại tốt cho mọi người.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên