Tam Thất Rừng – Panax Stipuleanatus

0
374
Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)
Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida)
Bộ Sơn Thù Du (Cornales)
Họ Ngũ Gia Bì (Araliaceae)
Chi Sâm (Panax)
Tên khác
Tam thất hoang; Sâm tam thất; Bỉnh biên tam thất; Phan xiết
Tên khoa học
Panax stipuleanatus Tsai & Feng
Tam thất rừng ( Panax stipuleanatus)

Tình trạng:

Nạn phá rừng làm nương rẫy (núi Hàm Rồng) hoặc để trồng thảo quả, trực tiếp làm thu hẹp phạm vi phân bố. Thường xuyên bị tìm kiếm khai thác (từ 1962 đến nay). Hiện đã trở nên cực hiếm; Đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao.

Đặc điểm

Tam Thất Hoang là loại cây thảo sống nhiều năm. Cây thảo sống nhiều năm, cao 25-75 cm. Thân rễ mập, nằm ngang, có nhiều chỗ lõm do vết thân để lại; ít khi phân nhánh; đường kính 1,5-3 cm. Mỗi khóm thường có 1 thân mang lá, ít khi 2 hoặc 3-trừ trường hợp đầu thân rễ bị tổn thương, sau phân nhánh và mọc lên số chồi thân tương ứng. Thân mọc thẳng, nhẵn; đường kính 0,3-0,6 cm.

Lá kép chân vịt, gồm 1-3 cái, mọc vòng ở ngọn; có cuống dài 5-10 cm. Lá chét 5; có cuống ngắn, hình thuôn hay mác thuôn, nhọn 2 đầu, 5-13 x 2-4 cm; mép có răng cưa, hoặc ở một số ít cây non có thể gặp dạng xẻ lông chim nông, mép của thuỳ nông cũng khía răng cưa; thường có lông ở gân mặt trên lá.

Sinh học và sinh thái:

Mùa hoa tháng 4-5, quả tháng 5-9 (10).

Cây đặc biệt ưa ẩm và ưa bóng, mọc rải rác trên đất có nhiều mùn, dưới tán rừng kín thường xanh ẩm, hoặc rừng có xen lẫn với sặt gai, ở độ cao từ 1600-2300 m.

Tam Thất Hoang có rễ củ dài, nạc, có nhiều đốt và những vết sẹo do thân rụng hằng năm để lại. Hình dạng và thành phần, công dụng rất giống với rễ củ của sâm Ngọc Linh (Panax articulatus K.L. Dao). Vì vậy, thời gian gần đây, một số người đã sử dụng rễ Tam Thất Hoang để làm giả rễ sâm Ngọc Linh.

Khu vực phân bố:

Tam Thất Hoang phân bố ở các tỉnh phía Nam, Tây Nam của Trung Quốc và phía Bắc nước ta: Lào Cai (Sa Pa và Bát Xát: núi Hoàng Liên Sơn).

Thành phần hóa học:

Củ Tam thất Hoang chứa các saponin triterpen: saponin A, B, C, D, acid oleanolic, đường khử, 16 acid amin như phenylalanin, leucin, isoleucin, valin, prolin, histidin, lysin, cystein, các chất vô cơ như Fe, Ca.

Tam thất cũng chứa các hợp chất giống như nhân sâm. Các bộ phận của cây như rễ con, lá, hoa tam thất đều chứa các hợp chất saponosid nhóm dammaran. Ngoài ra còn phải kể đến các thành phần có giá trị khác như các acid amin, các chất polyacetylen và panaxytriol…

Tính vị, tác dụng:

– Vị ngọt, hơi đắng, tính ôn; có tác dụng chỉ huyết, phá huyết tán ứ, tiêu thũng định thống và tư bổ cường tráng.

– Tam thất có tác dụng tăng lực rất tốt, tác dụng này giống với tác dụng của nhân sâm; rút ngắn thời gian đông máu; tiêu máu ứ và tăng lưu lượng máu ở động mạch vành của động vật thí nghiệm.

– Làm tăng sức co bóp cơ tim ở liều thấp;

– Tác dụng tăng cường sinh dục, đối với chức năng nội tiết sinh dục nữ, thể hiện ở các hoạt tính oestrogen và hướng sinh dục; giãn mạch ngoại vi và không ảnh hưởng đến huyết áp và hệ thần kinh trung ương; điều hòa miễn dịch; kích thích tâm thần, chống trầm uất.

Công dụng:

Theo Đông y: Tam Thất Hoang có vị ngọt, hơi đắng, tính ấm. Có tác dụng tư bổ cường tráng, tiêu viêm giảm đau, khư ứ sinh tân và cầm máu.

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy: Về thầnh phần hóa học, Tam Thất Hoang có thành phần hóa học tương tự Sâm Ngọc Linh; bao gồm các chất Bipinnatifidusoside F1 và F2; chikusetsusaponin V, IV, IVa; zingibroside R1; Ginsenosides F1, F2, F3, Rb1, Rb3, Rd, Re, Rg1, 24(S) – psudo ginsenoside F11, ginsenfoavone, majoroside F1, …

Theo sách “Trung Quốc dược thực chí”: Tam thất Hoang có tác dụng chữa thương tổn, cầm máu, có thể sử dụng để thay thế tam thất.

Trên lâm sàng rễ củ Tam Thất Hoang dược dùng để cầm máu các loại vết thương và xuất huyết. Cũng được dùng như tam thất làm thuốc bổ chữa thiếu máu, xanh xao gầy còm, nhất là đối với phụ nữ sau khi sinh đẻ, còn có tác dụng kích thích sinh dục và được dùng trong điều trị vô sinh. Liều dùng 4-8g thuốc bột hoặc rượu thuốc.

Theo Y học hiện đại, sâm Tam Thất Hoang có các tác dụng sau:

Bảo vệ tim chống lại những tác nhân gây loạn nhịp. Chất noto ginsenosid trong Tam Thất có tác dụng giãn mạch, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, tăng khả năng chịu đựng của cơ thể khi bị thiếu ôxy (tránh choáng khi mất nhiều máu). Nó cũng ức chế khả năng thẩm thấu của mao mạch; hạn chế các tổn thương ở vỏ não do thiếu máu gây ra.

– Cầm máu, tiêu máu, tiêu sưng: Chữa các trường hợp chảy máu do chấn thương (kể cả nội tạng), tiêu máu ứ (do phẫu thuật, va đập gây bầm tím phần mềm).

– Kích thích hệ miễn dịch.

– Tác dụng với thần kinh: Dịch chiết rễ Tam Thất Hoang có tác dụng gây hưng phấn thần kinh. Nhưng dịch chất chiết lá Tam Thất Hoang lại có tác dụng ngược lại: kéo dài tác dụng của thuốc an thần.

– Giảm đau: Dịch chiết của rễ, thân lá Tam Thất Hoang đều có tác dụng giảm đau rõ rệt.

Sau đây là một số bài thuốc có Tam Thất:

– Chữa thống kinh (đau bụng trước kỳ kinh): Ngày uống 5 g bột Tam Thất Hoang, uống 1 lần, chiêu với cháo loãng hoặc nước ấm.

– Phòng và chữa đau thắt ngực: Ngày uống 3 – 6 g bột Tam Thất Hoang (1 lần), chiêu với nước ấm.

– Chữa thấp tim: Ngày uống 3 g bột Tam Thất Hoang, chia 3 lần (cách nhau 6 – 8 giờ), chiêu với nước ấm. Dùng trong 30 ngày.

– Chữa các vết bầm tím do ứ máu (kể cả ứ máu trong mắt): Ngày uống 3 lần bột Tam Thất Hoang, mỗi lần từ 2 – 3 g, cách nhau 6 – 8 giờ, chiêu với nước ấm.

– Chữa đau thắt lưng: Bột Tam Thất Hoang và bột hồng nhân sâm lượng bằng nhau trộn đều, ngày uống 4 g, chia 2 lần (cách nhau 12 giờ), chiêu với nước ấm. Thuốc cũng có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho người suy nhược thần kinh, phụ nữ sau sinh, người mới ốm dậy.

– Chữa bạch cầu cấp và mạn tính: Đương quy 15 – 30 g, xuyên khung 15 – 30 g, xích thược 15 – 20 g, hồng hoa 8 – 10 g, Tam Thất 6g, sắc lấy nước uống.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên