Nấm Độc Tán Trắng – Amanita Verna

0
398
Nghành Nấm Lớn (Basidiomycota)
Lớp Nấm (Agaricomycetes)
Phân Lớp Hymenomycetes
Bộ Nấm Tán (Agaricales)
Họ Nấm Tán (Amanitaceae)
Chi Amanita
Loài A.Verna
Tên khác
Nấm Trò Lửa, Nấm nàng tiên trắng
Tên khoa học
Amanita Verna (Bull.: Fr.) Lam.
Nấm độc tán trắng (Amanita verna) là loại nấm mọc thành từng cụm hoặc đơn chiếc trên mặt đất trong rừng và một số nơi khác… Nấm tán trắng được phân bố ở khắp nơi trên thế giới và thấy nhiều ở Châu Âu, Châu Mỹ và Canada. Tại Việt Nam, nấm tán trắng thường mọc ở các tỉnh phía Bắc như: Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Yên Bái, Bắc Cạn, Phú Thọ. Chúng thường mọc ở các khu vực ven rừng vầu, tre, trúc, cọ và một số khu rừng với nhiều loài cây mọc thưa. Những khu vực có nấm độc tán trắng mọc năm nay thì năm sau thường mọc lại vì khu vực này có các bào tử nấm phát tán ra.
Nấm Độc Tán Trắng – Amanita Verna

Theo TS. Nguyễn Hùng Long, độc tố chính có trong nấm tán trắng là các amanitin (amatoxin) có độc tính cao, chỉ cần ăn một cây nấm cũng có thể bị tử vong.

Đặc điểm hình dáng:

– Mũ nấm: Màu trắng, bề mặt mũ nhẵn bóng, lúc non đầu tròn hình trứng, mũ nấm đính chặt vào cuống. Khi trưởng thành mũ nấm phẳng với đường kính khoảng 5 – 10 cm. Khi già mép mũ có thể cụp xuống.

– Phiến nấm: Màu trắng.

– Cuống nấm: Màu trắng, có vòng dạng màng ở đoạn trên gần sát với mũ.

– Chân cuống phình dạng củ và có bao gốc hình đài hoa.

– Thịt nấm: Mềm, màu trắng, mùi thơm dịu.

Do bề ngoài nấm tán trắng rất mập, trắng nên người dân dễ nhầm lẫn với các loại nấm ăn được. Thực tế, để phân biệt nấm độc tán trắng với các loại nấm trắng ăn được không đơn giản ngay cả với các nhân viên y tế cũng như người giàu kinh nghiệm. Vì thế người dân tuyệt đối không hái nấm hoang dại để ăn.

Đặc điểm ngộ độc do nấm độc tán trắng:

Độc tính amanitin có trong nấm tán trắng không mất khi đun sôi hoặc sấy khô. Độc tố của nấm tác dụng lên tế bào gan gây hoại tử gan, thải trừ qua nước tiểu, sữa gây ngộ độc cho trẻ còn bú sữa. Triệu chứng đầu tiên sau ăn nấm xuất hiện muộn (6 – 24 giờ), trung bình khoảng 10 – 12 giờ với biểu hiện buồn nôn, đau bụng, nôn mửa, ỉa chảy toàn nước rất nhiều lần. Tiếp theo xuất hiện suy gan, suy thận (vàng da, tiểu nhiều, tiểu ít, hôn mê) và tử vong.

Sơ cứu khi bị ngộ độc nấm

Khi có người có biểu hiện ngộ độc nấm cần nhanh chóng gây nôn (bằng biện pháp cơ học): Trong vòng vài giờ sau ăn nấm (tốt nhất trong giờ đầu tiên) nếu bệnh nhân là người trên 2 tuổi, tỉnh táo, chưa nôn nhiều.

Uống than hoạt tính: Liều 1gr/kg cân nặng người bệnh. Cho người bệnh uống đủ nước, tốt nhất là dùng oresol. Nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.

Nếu người bệnh hôn mê, co giật: Cho người bệnh nằm nghiêng.

Nếu người bệnh thở yếu, ngừng thở: Hà hơi thổi ngạt hoặc hô hấp nhân tạo bằng các phương tiện cấp cứu có tại chỗ. Khi đã được điều trị tại cơ sở y tế không tự về nhà trong 1 – 2 ngày đầu kể cả khi các biểu hiện ngộ độc ban đầu đã hết.

Ngộ độc nấm loại biểu hiện muộn cần được điều trị tại các cơ sở y tế có phương tiện hồi sức tích cực tốt (thường tuyến tỉnh trở lên).

Khi loại nấm tán trắng và nấm ăn được để lẫn, người dân khó có thể phân biệt rõ ràng. Theo TS. Nguyễn Hùng Long, nấm độc có một vành khứa nhỏ ở gần cuống nấm (tai nấm lớn nhất trong ảnh). Đây là một dấu hiệu để phân biệt nấm độc và nấm ăn được.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên