Cây Tô Hạp Hương – Liquidambar Orientalis

0
367
Bộ Tai Hùm (Saxifragales)
Họ Kim Lũ Mai (Hamamelidaceae)
Chi Sau Sau (Liquidambar)
Loài L.Orientalis
Tên khác
Tô hợp hương, Tô hạp, Tô hợp du
Tên khoa học
Liquidambar Orientalis Mill
Uống tô hạp hương giảm sự bài tiết phế quản. Người ta còn dùng tính chất sát trùng của nó để chữa ghẻ, chữa rận dương vật, làm lên da non. Trong hương liệu, tinh dầu tô hạp hương dùng chế mùi thơm hoa xoan và chất-tô hạp hương tinh chế đuợc dùng làm chất định mùi với tên baumarome destyrax.
Cây Tô Hạp Hương – Liquidambar Orientalis

Mô tả cây

Cây tô hạp hương là một cây to có thể cao 12-15m. Lá hình chân vịt, cuống dài, có 3 hoặc 5 thuỳ mép có răng cưa. Hoa đơn tính mọc ỏ kẽ lá, hoa đực thành bông, hoa cái họp thành hình cầu, trong có hạt dẹt. Trong vỏ cây có chất nhựa tức là tô hạp hương.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây này mọc ở châu Phi, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư. Triển vọng có ở Việt Nam (tại nông trường Tràng Vinh, cách thị xã Hải Ninh 5km), tỉnh Quảng Ninh.

Cách thu hái: Đầu mùa hạ chặt vỏ cây tới gỗ, mùa thu bóc vỏ, đun sôi với nước, lọc ép, nhựa dầu sẽ nổi lên. Có thể lấy như lấy cánh kiến trắng. Vị thuốc là một chất sền sệt như mật thường chia thành 2 lớp: Lớp dưới xám, lớp trên lỏng màu sẫm. Mùi thơm như bông, tôluy, vị đắng, hơi hắc. Vì tan trong cồn cho nên có thể tinh chế được (để loại tạp chất vô cơ và vỏ cây), tan trong clofofoc, axit axetic, cacbon sunfua, ête. Đun trên một phiến kính, để nguội sẽ có tinh thể styraxin và những tinh thể axit xinamic.

Thành phần hoá học

Phần đặc gồm có chất nhựa do cồn resitanola và axit xinamic. Phần lỏng gồm 17-23% axic xinamic tự do, 24% este của axit xinamic (xinamat xinamyl hay styraxin xinamat etyl, xinamat phenylpropyl). Axit xinamic tự do hay kết hợp chiếm chừng 47% nhựa lỏng. Ngoài ra còn tinh dầu trong tinh dầu trong đó chủ yếu gồm styrolen (xinamen hay phenyletylen) và các ête xinamic, trong nhựa còn có cả vanilin.

Có nước quy định tô hạp hương phải chứa ít nhất 20% axit xinamic toàn bộ, chỉ số axit 60- 80%. Chỉ số xà phòng 100-146. Dược thư y còn quy định tô hạp hương hoà vào cồn không được có quá 20% chất không tan.

Chú thích

1. Ở nước ta mới chắc chắn có cây sau sau, cây sâu, sâu trắng Liquidambar formosana Hance cùng họ. Người ta thường nuôi sâu cước để lấy chỉ cước khâu nón lá. Khía thân cũng lấy dược một chất nhựa màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ. Trong nhựa này có axit xinamic, xinamyl xinamat và l.bocneola. Ở Việt Nam chưa thấy dùng làm thuốc (nhưng Trung Quốc dùng làm thuốc).

2. Cây tô hạp hương bình khang-tô hạp Ahingia gracilipes Hemsl, phát hiện ở Điện Biên. Sau khi khía thân 2-3 ngày sẽ cho một thứ nhựa trắng dùng bôi lên giấy dán vào ngực khi bị ho.

Tác dụng dược lý:

Theo Y học cổ truyền:

Tô Hạp Hương có tác dụng khai khiếu, tịch uế chỉ thống (làm tỉnh thần trừ chất độc giảm đau). Chủ trị các chứng trúng phong đàm quyết, kinh phong, ngực bụng lạnh đau.

Trích đoạn Y văn cổ:

– Sách Danh y biệt lục: “Chủ tịch ác, sát quỷ tinh vật, ôn ngược, khử tam trùng, trừ tà, thông thần minh. Uống lâu nhẹ người tăng thọ.”

– Sách Tân tu bản thảo: “Thuốc thơm này lấy từ Côn lôn Tây vực, màu tím đỏ, giống như chân Đàn hương tía, rất thơm, nặng như đá đốt lên màu xám trắng là thứ tốt”.

– Sách Bản thảo cương mục: “Khí thơm xuyên thấu, thông khiếu các tạng phủ, nhờ đó mà có tác dụng trừ các loại tà khí”.

– Sách Bản thảo phùng nguyên: “Thuốc thông khiếu các tạng, trừ tất cả các tà khí. Đối với chứng đàm tích khí quyết, trước hết dùng thuốc này để khai đạo, trị đàm phải lấy lý khí làm căn bản. Phàm các khí sơn lam chướng thấp phạm vào kinh lạc, co duỗi chân tay khó khăn, không có thuốc này không trị được. Nhưng thuốc tính táo khí xuyên nên trường hợp âm hư hỏa nhiều kî dùng”.

– Sách Bản thảo tùng tân: “Ngày nay người ta lạm dụng Tô hợp hoàn, không biết rằng các loại thuốc thơm tẩu tán chân khí. Mỗi lần uống bệnh nhẹ thành nặng, nặng thì có thể tử vong. Người khỏe thì có thể dùng 1 – 2 viên, nếu yếu thì không dùng vậy”.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

– Trên súc vật thí nghiệm chứng minh: Tô hợp hương có khả năng tăng sức chịu đựng thiếu oxy của súc vật, đối với chó bị nhồi máu cơ tim thực nghiệm, thuốc làm giảm nhịp tim, cải thiện lưu lượng máu ở mạch vành, làm giảm thấp lượng oxy tiêu hao của cơ tim.

– Thuốc có tác dụng chống ngưng tập tiểu cầu.

– Thuốc có tác dụng long đàm do kích thích niêm mạc đường hô hấp.

– Thuốc có tác dụng kháng khuẩn và kháng viêm nhẹ, do đó có thể dùng trị chàm lở ngoài da, giảm ngứa và giúp cho vết thương lóet lở chóng lành.

Ứng dụng lâm sàng:

1. Trị bệnh mạch vành:

– Quan tâm Tô hợp hoàn (dầu Tô hợp hương, Băng phiến, Mộc hương, Chu sa, Đàn hương) trị 146 ca bệnh mạch vành đau thắt ngực, có kết quả giảm triệu chứng đạt 91,5%.

– Tô băng dịch hoàn (dầu Tô hợp hương, Băng phiến) trị 301 ca, làm giảm triệu chứng với tỷ lệ 83,4%, kết quả điện tâm đồ 31,5% (Báo cáo của Bệnh viện Hoa sơn trực thuộc Học viện Y số 1 Thượng hải, Tập san giao lưu tình hình Y học Thượng hải 1977,2:19).

– Ngoài ra dùng Tô tâm hoàn (Nhân sâm, Xạ hương, dầu Tô hợp hương, Băng phiến, Nhục quế, Thiềm tô, Ngưu hoàng), ngày 3 lần, mỗi lần 2 viên trong 3 ngày hoặc lúc lên cơn uống 1 – 2 viên. Trị 132 lần cơn đau mạch vành, có đối chứng với viên Cứu tâm hoàn của Nhật, kết quả như nhau, nhưng tác dụng phụ của Tô tâm hoàn ít hơn. Kết quả giảm triệu chứng của Tô tâm hoàn là 67,275 nhưng kết quả điện tâm đồ đạt 52,5% mà tác dụng nhanh, thời gian kéo dài (Báo cáo của tổ hợp tác nghiên cứu Tô tâm hoàn của Thượng hải, Tạp chí Trung y 1981,12:23).

2. Trị bệnh giun chui ống mật: Dùng nước ấm uống viên Tô hợp hương hoàn, mỗi lần 1 viên, ngày 2 – 3 lần. Trị 9 ca có kết quả 89% (Cổn gia Sương, Báo Trung y Thiểm tây 1985.7:322).

3. Trị trúng phong đàm quyết chứng bế:

– Tô hợp hương hoàn (Hòa tể cục phương): Bạch truật, Thanh mộc hương, Tê giác, Hương phụ, Chu sa, Kha tử, Bạch đàn hương, An tức hương, Trầm hương, Đinh hương, Xạ hương, Tất bạc đều 40g, Long não, Tô hợp hương, Nhũ hương đều 20g. Trừ Tô hợp hương, Xạ hương, Băng phiến (Long não), các vị còn lại nghiền thật mịn trộn đều rồi gia 3 vị trên, luyện mật làm hoàn nặng 4g, mỗi lần uống 0,5 – 1 hoàn, ngày 1 – 2 lần với nước sôi nóng, trẻ em tùy theo tuổi giảm liều.

Liều lượng thường dùng và chú ý:

– Liều uống thường dùng: 0,3 – 1g, cho vào hoàn tán, không cho vào thuốc thang sắc. Dùng ngoài lượng vừa đủ, có thể cho vào alcool để dùng.

Chú ý: Tô hợp hương là thuốc ôn khai nên thích hợp với chứng hàn bế. Đối với chứng nhiệt bế và chứng thóat không nên dùng.Âm hư hỏa vượng không dùng.

theo”Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” – Gs. Ts. Đỗ Tất Lợi / Baophuyen.com.vn

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên