Cây Ớt Hiểm – Capsicum Frutescens

0
492
Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)
Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida)
Bộ Cà (Solanales)
Họ Cà (Solanaceae)
Chi Capsicum
Loài C.Frutescens
Tên khác
Ớt mắt chim, Ớt chim, Ớt thái, Ớt Thái lan, Ớt chili, Ớt cựa gà
Tên khoa học
Capsicum Frutescens L.
Tên đồng nghĩa
C. annuum L., C. baccatum L., C. minimum Roxb., nom. Illeg, non Mill.;
Tên nước ngoài
Bird’s eye chili, bird’s chili
Cây Ớt Hiểm (Capsicum Frutescens) được dùng để làm giảm chứng viêm khớp và bệnh thấp khớp, và cũng là thuốc chữa chứng khó tiêu, đầy hơi và đau răng. Nó cũng có thể được sử dụng làm thuốc bôi chống muỗi hoặc có thể được pha loãng để làm thuốc trừ sâu.
Cây Ớt Hiểm – Capsicum Frutescens

Mô t

Ớt hiểm là loại cây lâu năm, thân nhỏ, trái thuôn nhỏ, thường mọc thành chùm 2, 3 trái ở đốt. Trái của nhiều loại ớt hiểm thường có màu đỏ, một số loại có màu vàng, tím hoặc đen. Trái ớt hiểm rất cay. Hoa có màu trắng xanh hoặc trắng vàng.

Theo phân loại học, ớt hiểm là một giống ớt của loài Ớt cựa gà (Capsicum frutescens), nhưng ngày ngay có người phân loại chúng vào loài Ớt kiểng (Capsicum chinense).

Ớt hiểm nhỏ nhưng có vị rất cay. Độ cay của nó là 100,000–225,000 đơn vị Scoville, thấp hơn độ cay của ớt Habanero.

– Chiều cao cây – cao đến 2 mét.

– Màu của cành cây – Xanh lá.

– Màu lá – Xanh lá.

– Kích cỡ lá – 3–8 cm by 2–4 cm.

– Màu trái ớt khi chín – xanh lá, cam và đỏ.

– Hình dạng trái – hình nón.

– Chiều dài trái – 2–3 cm.

– Bề rộng trái- 0.5 cm.

– Cân nặng của trái – 2-3 grams.

– Bề mặt trái ớt – phẳng.

– Màu của hạt – màu rám nắng nhạt.

– Số lượng hạt mỗi cây – 10-20.

Hoa cây Ớt hiểm

Nguồn gốc

Tất cả các loại ớt ở khắp thế giới đều có nguồn gốc từ México, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Ớt được đế chế Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha phổ biến khắp nơi trên con đường xây dựng nên một đế chế toàn cầu; ớt vẫn tiếp tục được trồng ở các thuộc địa của họ ở châu Á và châu Phi. Các loại ớt ở Đông Nam Á hiện nay được du nhập về trồng từ các thương nhân và các tên thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Chilies were spread by the Spanish and the Portuguese in their quest to build a global empire and are still grown in their former colonies in Châu Phi và Châu Á.

Tên thường gọi

Ớt hiểm được gọi với tên cili padi (cili phát âm là “chili”, nghĩa là “ớt gạo”) ở nhiều vùng tại Malaysia vì kích cỡ nhỏ của chúng gợi cho mọi người nghĩ đến hạt lúa vốn là loại lương thực cơ bản trong vùng. Ở miền Bắc Malaysia, ớt này có tên là cabai burung, nghĩa là “ớt chim” vì chim rất thích ăn loại ớt này.

Cũng giống như người Malay, ở Thái, ở Indonesia, ớt này được gọi là cabe rawit trong tiếng Indonesia, lombok rawit (trong tiếng Java, cengis trong thổ ngữ Banyumasan), cengek trong tiếng Sundan; ở Thái được gọi là phrik khi nu (พริกขี้หนู) hay “ớt cay Thái”, “ớt rồng Thái” (vì nó có dạng giống móng rồng), ở Philippines là siling labuyo trong filipino, ladâ, và boonie pepper (tên tiếng Anh).

Công dụng

Nấu ăn

Phrik nam pla – nước mắm pha chanh, hiểm, được dùng trong hầu hết các bữa ăn của người Thái

Trái của loại ớt này được dùng làm gia vị, rất phổ biến trong các nền ẩm thực Đông Nam Á. Trong ẩm thực Việt Nam, ớt hiểm được sử dụng trong các món canh, rau trộn, và các món xào. Chúng cũng được phan vào các món chấm như nước mắm, nước tương, muối hoặc ăn không như gia vị. Chúng cũng là loại nguyên liệu chính trong món kochchi sambal, một loại gỏi làm từ dừa nạo, các loại ớt Thái và thêm chút muối, nước chanh.

Ớt hiểm là thành phần tạo cho một số món ăn có vị cay xé lưỡi như món “Bicol express” của Philippines. Ớt này cũng được dùng với giấm. Lá ớt cũng được ăn như một món rau. ví dụ như trong món tinola của ẩm thực Philippines.

Trang trí

Giống ớt hiểm đẹp nhưng ít cay hơn, gọi là “ớt chỉ thiên”, thường có màu vàng, cam, và khi chín có màu đỏ. Nó là giống cơ sở để lai ra giống ớt Numex twilight, ít cay hơn, trái ban đầu màu tím để góp phần tạo màu cầu vồng, và được xếp vào chi ớt Capsicum annuum. Giống ớt này thường mọc hoang ở những nơi như Saipan và Guam.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên