Cây Mộc Qua – Chaenomeles Lagenaria

0
507
Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)
Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida)
Bộ Hoa Hồng (Rosales)
Hoa Hồng (Rosaceae)
Tên khoa học
Chaenomeles Lagenaria (Loisel.)

Mô Tả: Cây sống lâu năm, cao 5-10m. Cành non hơi có lông, lá đơn hình trứng dài 5- 8mm, rộng 3-5mm, màu xanh bóng, mép lá răng cưa nhỏ đều. Hoa đơn độc mọc ở đầu cành cùng lúc lá non mới trổ (vào khoảng tháng 4-5). Quả hình trứng dài 10-15cm, thịt xốp màu vàng nâu, có mùi thơm, nhân cứng rắn.

Cây Mộc Qua – Chaenomeles Lagenaria

Địa lý : Mọc ở các tỉnh Hồ Bắc, Giang Tô, Giang Tây (Trung Quốc).

Bộ phận dùng: Quả. Loại vỏ ngoài nhăn, mầu hồng tía, cứng là loại tốt. Vỏ ngoài nhăn, hơi thưa, mầu hồng nâu, xốp, là loại vừa.

Mô tả dược liệu: Hình tròn dài, bổ đôi thành  hai mảnh, hai đầu hơi cong lên, một mặt phẳng, mặt kia gồ, dài khoảng 5-8,5cm, đường kinh 3,5 – 5cm. Đỉnh lõm xuống, vỏ ngoài mầu hồng tía hoặc hồng nâu, có vết nhăn. Quanh mép chỗ cắt đều cong vào trong, cùi quả mầu nâu hồng, ở phần giữa có túi ngăn hạt hõm xuống, mầu vàng nâu, dính liền với cùi quả. Hạt thường tách rời, chỗ hạt rụng rơi bên ngoài trơn bóng. Hạt dẹt, dài 1cm, rộng 0,3cm, mặt  ngoài mầu nâu hồng, có vân nhăn.

Thu hái, Sơ chế: Vào tháng 8 khi vỏ quả chuyển thnàh mầu vàng xanh, thu hái về, cho vào nước đun sôi 5 phút, vớt ra, phơi đến khi vỏ ngoài có vân nhăn, chẻ dọc làm hai, phơi khô là được.

Quả Mộc Qua Chín Vàng

Bào chế:

+ Lấy Mộc qua đã khô, tẩm nước ủ một ngày đồ mềm, vừa đồ vừa thái (để nguội thì cứng lại), phơi khô dùng sống hoặc tẩm rượu sao (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

+ Dùng dao bằng đồng bóc bỏ vỏ và hạt, trộn với sữa bf 3 giờ rồi phơi khô để dùng (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Quả chín hái về, cho vào nước sôi đun khoảng 5~10 phút, lấy ra, phơi hoặc sấy cho vỏ nhăn, cắt dọc thành 2~4 miếng, phơi cho vỏ chuyển thành mầu đỏ là được (Trung Dược Học).

+ Ngâm nước một ngày, cho vào chõ hấp mềm, vừa hấp vừa thái phiến (nếu để nguội sẽ cứng, khó thái, thái ra bị vỡ vụn) (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Bổ đôi, rửa sạch ủ một đêm, thái mỏng phơi khô. Dùng ít, đập dập (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

Bảo quản: Dễ mốc mọt nên phải để nơi khô ráo, thoáng gió. Có thể sấy hơi diêm sinh.

Thành phần hóa học:

+ Saponin, Fructose, Acid Citric, Flavone, Tartaric acid, Tannin (Trung Dược Học).

+ Saponin 2%, Tartaric acid, Citric malie, Tanin và Flavonozid (Viện Y Học Bắc Kinh).

+ Malic acid, Tartaric acid, Citric acid (Nan Ba Hằng Hùng, Sinh Dược Học Khảo Luận, Nhật Bản Nam Giang Đường 1990: 289).

+ Oleanolic acid (La Cảnh Phương, Trung Thảo Dược 1983, 14 (11) : 528).

Tác dụng dược lý:

+ Mộc qua có tác dụng bảo vệ gan, làm hạ men gan SGOT, SGPT. Nước sắc Mộc qua có tác dụng tiêu viêm rõ trên mô hình viêm khớp chuột nhắt do chích Protein (Trung Dược Học).

Tính vị:

+ Vị chua, khí ôn, không độc (Biệt Lục).

+ Vị chua, tính mát (Dược Phẩm Hoá Nghĩa).

+ Vị chua, khí âm, không độc (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Vị chua, tính ôn (Trung Dược Học).

+ Vị chua, sáp, tính bình (Vân Nam Trung Dược Tư Nguyên Danh Lục).

Quy kinh:

+ Vào kinh Tỳ, Phế, Can, Thận (Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Vào kinh Vị, Can (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Vào kinh Can, Tỳ (Trung Dược Học).

Tác dụng, Chủ trị:

+ Thư cân, hoạt lạc, hoá thấp, hoà Vị (Trung Dược Học).

+ Khu phong cường tráng, thư cân, trấn thống, tiêu viêm, bình Can, hoà Vị. Trị nôn mửa, tiêu chảy, dư chất chua, kiết lỵ, thổ tả rút gân (Vân Nam Trung Dược Tư Nguyên Danh Lục).

Kiêng kỵ:

+ Ăn nhiều làm hại răng. Trường vị có tích trệ: không nên dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Thương thực mà Tỳ Vị chưa hư, tích tụ nhiều, không nên dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Mộc qua có vị chua, ăn nhiều sẽ gây nên bí tiểu (Thực Dụng Trung Y Học).

Liều dùng: Ngày dùng 6 – 12g.

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị hoắc loạn chuyển gân: Mộc qua 30g, rượu 1 lít, sắc uống. Nếu không uôngd được rượu thì sắc với nước uống. Ngoài ra nấu Mộc qua lấy nước ngâm chân (Thánh Huệ Phương).

+ Trị tạng Thận hư hàn, khí công lên bụng, sườn, chướng đầy, đau: Mộc qua to 30 trái, bóc bỏ vỏ và hạt (rỗng ruột). Lấy bột Cam cúc hoa, bột Thanh diêm đều 480g. nấu chung cho nhừ thành cao. Cho vào 480g Ngải nhung, trộn thành cao, làm thành viên, to như hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên, ngày 2 lần (Thánh Tế Tổng Lục).

+ Trị gáy cứng, gân co rút không thể cử động được, đó là do tạng Thận và Can bị phong vậy: Mộc qua 2 quả, khoét bỏ lõi, hột, lấy 60g Một dược, 7,5g Nhũ hương, trộn đều, cho vào trong quả Mộc qua, buộc chặt, hấp trong nồi cơm 3-4 lần, rồi nghiền nát thành cao. Mỗi lần dùng 9g, sắc với 100ml nước Sinh địa và 400ml rượu, uống nóng (Bản Sự Phương).

+ Trị cước khí: Mộc qua, cắt vụn, cho vào túi, lấy chân đạp lên. Có người bị cước khí, gân co, chân sưng, nhân khi đi thuyền, lấy chân gác lên một bao tải, tự nhiên thấy nhẹ đai, đau giảm, liền hỏi lái đò trong bao tải đựng cái gì? Lái đò trả lời rằng đó là Mộc qua của vùng Tuyên châu. Khi về nhà, người này bắt chước cho Mộc qua vào bao, thay dùng liên tục thì khỏi bệnh (Danh Y Lục Phương).

+ Trị trĩ hoa sen: Mộc qua tán nhuyễn, hoà với nhớt trên thân con Lươn, bôi vào, lấy giấy băng lại (Y Lâm Tập Yếu).

+ Trị gân chân co rút gây đau: Mộc qua vài quả, lấy rượu và nước đều một nửa, nấu nhừ thành cao. Lúc còn âm ấm, đắp lên chỗ đau, buộc lại, khi nguội lại thay miếng khác.mỗi ngày 3-5 lần (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Trị thổ tả không cầm, chân tay co rút, ngực bứt rứt khó chịu: Mộc qua, Hồi hương, Ngô thù du, Cam thảo. Tán bột. Lấy Sinh khương, Tử tô, sắc lấy nước uống với thuốc bột (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Trị tê thấp cước khí, chân đau do chấn thương: Mộc qua , Ngũ gia bì đều 40g, Uy linh tiên 20g, tán nhuyễn. Mỗi lần uống 10g, với rượu (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị viêm ruột cấp, nôn mửa, cẳng chân co giật, ngực đầy tức: Mộc qua, Ngô thù, Hồi hương, Sinh khương, Tía tô đều 6g. Sắc uống (Mộc Qua Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị viêm gan cấp, vàng da: Mộc qua chế thành dạng trà hãm nước sôi uống. Mỗi lần 1~2 bao, (mỗi bao có 5g thuốc sống tương đương), ngày 3 lần. Đặng Trí Mẫn trị 70 ca có kết quả tốt (Phúc Kiến Trung Y Dược 1987, 2 : 14).

+ Trị lỵ trực khuẩn cấp: Mộc qua chế thành viên, mỗi lần uống 5 viên (mỗi viên  0,25g tương đương 1,13g thuốc sống, ngày 3 lần. 5~7 ngày là một liệu trình. Quách Thành Lập và cộng sự đã dùng trị 107 ca, tỉ lệ khỏi là 85,8%, tỉ lệ có kết quả 96,28% (Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1984, 11 : 689).

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên