Cây Đại Kích – Euphorbia Pekinensis

1
394
Bộ Sơ Ri (Malpighiales)
Họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae)
Chi Đại Kích (Euphorbia)
Loài E. Pekinensis
Tên khác
Hồng nha đại kích, Hồng mao đại kích, Tử đại kích, Miên đại kích, Thảo đại kích, Bắc đại kích
Tên khoa học
Euphorbia Pekinensis Rupr

Mô tả: Cây thảo sống lâu năm, có độc, thân cao 0,3-0,7m, có lông nhỏ lá mọc cách, hình mũi mác, bầu dục, hai bên mép lá có răng cưa không rõ ràng, thân lá cắt ra có dịch trắng chảy ra, đầu mùa hè thân phân nhánh và ra hoa màu vàng xanh. Quả hơi dẹp hình tròn, có vết nứt lồi ra.

Phân biệt: Có 2 loại Đại kích là Hồng nha đại kích và Miên đại kích.

Hồng nha đại kích: Còn gọi là Hồng mao đại kích hoặc Tử đại kích là vị Đại kích mà người phương nam Trung Quốc hay dùng, vị thuốc khô biểu hiện hình tơ xe, cong nhăn teo, dài từ 32-50mm, dầy chừng 6-12mm, bên ngoài có màu đỏ nâu hoặc nâu xám, hơi có rễ nhánh, vết nhăn dài mà sâu, liên tiếp không dừng, chất cứng mà giòn (gặp trời mẩm dễ hút ẩm và mềm trở lại) bẻ gẫy có màu nâu đất, có mùi đặc biệt.

Miên đại-kích: Còn gọi là Thảo đại kích hoặc Bắc đại kích, biểu hiện hình trụ tròn dài, mà nhỏ, dài chứng 18-25cm có khi tới 50cm, rộng chừng 6-9mm, mặt ngoài màu đỏ nâu hoặc nâu xám, hơi uốn cong chất mềm khó bẻ gẫy, dễ tước, vị này ít dùng.

Hoa Cây Đại Kích – Euphorbia Pekinensis

Địa lý: Cây này Việt Nam chưa thấy có, còn phải nhập của Trung Quốc. Thường có ở Quảng Đông, Quảng Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Thiểm Tây, Giang Tô, Triết Giang.

Thu hái, sơ chế: Thu hái vào tháng 8-10 âm lịch, ngâm nước cho mềm cạo bỏ lõi ở giữa xắt lát phơi khô.

Phần dùng làm thuốc: Rễ.

Bào chế: Sao với giấm hoặc chưng với đậu hũ cho nhừ.

Tính vị: Vị đắng. Tính mát Có độc.

Quy kinh: Vào kinh Thận.

Tác dụng: Trục thủy, hóa ẩm.

Chủ trị: Trị phù thũng tay chân, bụng lớn. Ho suyễn, đàm ẩm tích tụ. Đau hông sườn như dao cắt.

Liều dùng: 2 – 6g.

Kiêng kỵ: Người nguyên dương suy yếu không nên dùng.

Phụ nữ có thai cấm dùng.

Bảo quản: Để nơi khô ráo.

Cây Đại Kích – Euphorbia Pekinensis

Đơn thuốc kinh nghiệm:

– Trị trúng phong thái dương kinh, biểu đã giải mà lý chưa hòa, đau tức ran sườn, hoặc vì nước đình tích mà ho, phù thủng thở gấp, đại tiểu tiện bí: Cam toại, Nguyên hoa, Đại kích, tán bột sắc với nước Đại táo uống (Thập Táo Thang – Thương Hàn Luận).

– Trị trúng gió phát sốt: Đại kích, Khổ sâm, mỗi thứ 120g, nước dấm, rượu trắng 1 đấu nấu mà rửa, lạnh thì thôi (Thiên Kim Phương).

– Đại kích thường hay bỏ vào ‘Ngọc Khu Đơn, Tử Kim Đính’ để giải cổ độc, nhiệt độc ung thư, mụn nhọt, các loại rắn độc cắn, trong uống ngoài dán, khi nào đi cầu được là tốt (Tam Nhân Phương).

– Trị bệnh đậu biến thành đen, khô hãm không phát ra được, hàn mà đại tiện bón: Đại kích 30g, Táo 3 trái, 1 chén nước nấu rồi phơi khô, bỏ Đại kích, lấy Táo nhục sấy khô làm thanh viên, uống từ 1 – 2g, đến khi nào đi cầu được thì thôi (Bách Tường Hoàn – Tam Nhân Phương).

– Trị đờm dãi lưu trệ trên hoặc dưới ngực, hung cách, biến chứng đủ thứ bệnh, khi đau cổ gáy ngực vai lưng sườn, khi tay chân đau nhức không chịu được, gân cốt rã rời, đau không cố định khi rung chỗ này khi giật nơi khác, da thịt mất cảm giác như bại liệt, những chứng ấy không nên cho là phong khí, phong độc và ung nhọt để trị, hoặc trong lúc ngủ chảy nước dãi nơi miệng, ho suyễn, đờm mê tâm khiếu: Tử đại kích, Cam toại, Bạch giới tử  đều 30g, sao qua, tán bột, lấy nước cốt gừng trộn làm viên to bằng hạt ngô đồng lớn, uống lần 7-20 viên nuốt với nước bọt, nếu muốn đi cầu được lợi hơn dùng 50-60 viên (Khống Diên Đơn – Tam nhân phương).

– Trị đau răng, răng lung lay:  Đại kích nhai nhét vào chỗ đau (Sinh Sinh Phương).

– Trị phù thủng thở gấp, tiểu tiện ít, phù bụng: Đại kích 60g, Can khương sao đen đều 15g, tán bột, mỗi lần uống 9g với nước gừng sống, khi nào đại tiểu tiện thông thì thôi (Thánh Tế Tổng Lục).

– Trị phù thủng cấp hoặc mãn tính, dùng Đại kích, Đương quy, Quất bì mỗi thứ 30g, sắc với 2 thăng nước còn 7 chén, đi cầu được là tốt, nhưng cũng cần uống thêm 2- 3 thăng nữa, khi đỡ rồi, cữ ăn thức ănà độc trong 1 năm (Binh Bộ Thủ Tập Phương).

– Trị phù thủng căng trướng: Đại kích 30g, Quảng mộc hương 15g, tán bột, uống 3 – 5g với rượu, đi cầu ra nước xanh biếc, sau đó ăn cháo, cử ăn thức ăn mặn (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

– Trị phù thủng căng trướng: Đại kích 30g đốt tồn tính tán bột uống rượu lúc đói (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

– Trị phù lớn như cái trống, phù cả người: Táo1 đấu,  bỏ vào nồi, tẩm qua nước, dùng Đại kích (rễ và ngọn non) trét kín nắp nồi thật kín, nấu chín, lấy Táo ăn (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

– Trị phù lớn như cái trống, phù cả người: Đại kích, Bạch khiên ngưu, Mộc hương, các vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần dùng 3g,  lấy thịt thăn heo, xẻ ra bỏ thuốc vào giữa gói lại, nướng chín, ăn lúc đói (Đại Kích Tán – Hoạt Pháp Cơ Yếu).

1 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên