Cây Dã Bồ Đào – Vitis Thunbergii

0
388
Bộ Nho (Vitales)
Họ Nho (Vitaceae)
Chi Vitis
Loài V.Thunbergii
Tên khác
Anh thiệt, Anh cúc, Bồi cốt đằng, Cam cổ đằng, Hòa hoàng đằng, Toan cổ đằng, Dã bồ đào đằng, Miêu căn tinh, Đằng danh mộc long, Miêu nhĩ đằng, Sơn hồng dương, Sơn khổ qua, Mộc long, Sơn bồ đào, Úc, Yên hắc, Yến úc, Nho dại.
Tên khoa học
Vitis Thunbergii Siebold & Zucc., 1845
Tên đồng nghĩa
Vitis Thungergii Sieb. et Zucc
Cây Dã Bồ Đào (Vitis Thunbergii) có tác dụng Chỉ khát, lợi tiểu, khứ thấp, lợi tiểu, giải độc, lương huyếtchỉ huyết, giải độc, tiêu thũng. Được dùng trị nấc, động kinh, tăng khí lực, lao hạch, vú sưng, thấp chẩn, ghẻ ngứa…
Cây Dã Bồ Đào – Vitis Thunbergii

Mô tả: Cây cỏ mọc leo, thân leo nhờ cây khác, khi bẻ ra có mủ trắng. Lá giống lá nho nhưng nhỏ hơn. Hoa nở vào tháng 5, ra trái vào tháng 7. Trái mầu xanh đen hơi đỏ. Rễ và mủ cây dùng làm thuốc.

Địa lý: Ít thấy ở Việt Nam.

Thu hái: Vào mùa Hè, hái, lấy rễ và thân cây, rửa sạch, phơi khô.

Thành phần hóa học: trong Anh úc có Glucose 10%, Acid Tactric, đa số là chất hữu cơ, Acid béo, sáp, sắc tố và Vitamin (Trung Dược Học).

Tính vị:

– Vị ngọt, tính bình, không độc (Y Học Cương Mục).

– Vị ngọt, chua, không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tác dụng:

Chỉ khát, lợi tiểu (Y Học Cương Mục). Khứ thấp, lợi tiểu, giải độc (TDĐT.Điển). Lương huyết, chỉ huyết, giải độc, tiêu thủng (Phúc Kiến Trung Thảo Dược).

Chủ trị:

– Trị nấc, thương hàn sau đó gây ra ói dùng rất hay (Đường Bản Thảo).

– Nước cốt ép nhỏ vào mắt trị mắt sưng đỏ, mắt có màng (Bản Thảo Bổ Di).

– Trị các chứng khát, tăng khí lực (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

– Trị chứng lâm, lỵ, tê thấp, động kinh, nấc, lao hạch, vú sưng, thấp chẩn, ghẻ ngứa (Trung Dược Đại Từ Điển).

Liều dùng: Uống trong: 20~40g. Nước cốt ép dùng bôi ngoài da, nhỏ vào mắt…

Đơn thuốc kinh nghiệm:

– Trị tự nhiên ói, nấc: Anh úc đằng, giã ép lấy nước uống (Bổ Khuyết Trửu Hậu Phương).

– Trị huyết lâm: Anh úc đằng, Xa tiền tử, Ngẫu tiết đều 20g, Phượng vĩ thảo, Tiểu đao đều 12g. Sắc uống (Trung Y Dược Thực Nghiệm Nghiên Cứu).

– Trị lỵ: Anh úc (dây) 40g, sắc uống. Xích lỵ thêm 40g đường trắng, Bạch lỵ thêm 40g đường đỏ, quậy đều, uống (Trung Dược Đại Từ Điển).

– Trị lao hạch: Anh úc cọng hoặc rễ 40g, sắc uống (Giang Tây Dân Gian Thảo Dược).

– Trị tai sưng: Anh úc đằng tươi, ép lấy nước nhỏ vào tai (Giang Tây Dân Gian Thảo Dược).

– Trị ngoại thương xuất huyết: Anh úc lá, sấy khô, nghiền nát thành bột, bôi (Truyền Phương Nghiệm Phương Điều Tra Tư Liệu Tuyển Biên).

– Trị dương giản phong: Anh úc, dùng thân tươi, bỏ vỏ, 120g, sắc uống (Giang Tây Dân Gian Thảo Dược).

– Trị phong thấp đau nhức khớp: Anh úc (dùng thân), 60g, sắc chung với rượu và nước, uống (Trung Dược Đại Từ Điển).

– Trị bị té ngã tổn thương: Anh úc, toàn cây, 80g, sắc với nước và rượu, uống (Trung Dược Đại Từ Điển).

– Trị vú sưng, mắt sưng: Anh úc (khô), lấy cả cây, Bồ công anh, Cam thảo đều 28g, sắc uống (Trung Dược Đại Từ Điển).

Tham khảo:

– “Anh úc, Sơn bồ đào đều dùng làm rượu” ( Đường Bản Thảo).

– “Anh úc, tức là Sơn bồ đào, chặt nát ra, khí thoát ra một đầu giống như là vị thuốc Thông Thảo” (Bản Thảo Bổ Di).

– ”Anh úc, loại sống ở rừng hoặc trong nhà, có thể trồng bằng cách cắm xuống đất, lá già, hoa và trái không khác gì Bồ đào, đầu nhỏ mà tròn, sắc tím”  và “ Tháng 6 ăn trái nho” là nó vậy. Dùng cọng (thân) thổi vào thấy nước chảy ra, giống như cây Thông Thảo vậy’ (Bản Thảo Cương Mục).

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên