Cây Cúc Núi – Arnica Montana

0
417
Bộ Cúc (Asterales)
Họ Cúc (Asteraceae)
Chi Arnica
Loài A.Montana
Tên khoa học
Arnica Montana L., 1753
Cây Cúc núi Arnica montana đã được sử dụng trong y học dân gian từ nhiều năm, cho khả năng của nó gia tốc chữa lành gia tăng tốc độ hóa sẹo chữa lành vết tím bầm, bong gân, chống viêm, động kinh, say sóng, kích thích mọc tóc.
Cây Cúc Núi – Arnica Montana

Mô tả thực vật:

Thân thảo, sống lâu năm, từ 20 đến 40 cm cao, thẳng, thô thường thân đơn hay thành nhánh đôi mọc đối nhau, những lá kết chụm ở gốc như hoa hồng. Toàn cây có màu xanh lá cây nhạt và được bao phủ bởi những lông tuyến rất thơm.

Căn hành rhizome mỏng màu đen nhạt, hình trụ thường cong, từ 2,5 đến 5 cm dài nơi đây phát xuất những rễ phụ hình sợi.

Nó hiện có 2 dưới loài ssp là montana và atlantica. Ngưới ta chỉ phân biệt giửa 2 dưới loài nhờ ở kích thước hình dạng của lá. Trong Pháp chỉ gặp dược 1 dưới loài montana (Arnica montana ssp montana).

Cây Cúc núi Arnica montana trổ hoa vào tháng 5 đến tháng 8 tùy theo tầng sinh thái thực vật. Cây thụ phấn bởi loài côn trùng và những hạt được phát tán bởi gió.

Lá, nguyên, không cuống ở đáy, mọc đối, hình bầu dục và những gân lá theo chiều dọc nổi lên ở mặt dưới, tất cả mọc chụm ở gốc thành hình dạng như một hoa hồng, mặt khác có thể xác định bởi một trục phát hoa từ 20 đến 40 cm cung cấp bởi 2 lá nhỏ ở phía trên thân mọc đối hay gần như đối. Những lá đặc biệt bao phủ bởi những lông, đây là đặc tính của Cây Cúc núi có tên là « da cừu » ám chỉ lá được bao phủ bởi lớp lông tơ mịn.

Phát hoa, hoa đầu capitules của họ Cúc Asteraceae khá lớn (6-8 cm) và cô độc hoặc tập hợp thành 3 hoặc 4 hoa đầu ở đỉnh ngọn hoặc ở những nhánh phụ, màu vàng cam, có mùi thơm đặc trưng, hương vị hơi cay, gồm những hoa:

– Hoa tia dài 20-30 mm, ngoại vi và hoa ống lưỡng tính dài 15 mm ở trung tâm.

– Tổng bao của hoa hình trụ, màu xanh lá cây thô với những chấm tím và có lông.

– Những hoa đĩa màu vàng cam với vành hoa hình ống với 5 răng tỏa rộng ra.

– Những hoa tia số lượng khoảng 15, màu vàng.

– Trái, bế quả với những hạt hơi có lông và cũng có chùm lông tơ màu trắng nhạt.

Bộ phận sử dụng:

– Tất cả những bộ phận của Cây Cúc núi Arnica montana đều được dùng làm thuốc (lá, rễ và hoa).

– Hoa là bộ phận được sử dụng thường nhất. Hoa được thu thập ngay sau khi nở và rễ (căn hành rhizome, được đào lên vào mùa thu, khi cây đã khô héo. Thỉnh thoảng mở ra quan sát có thể bị tấn công  bởi những côn trùng.

– Hoa được sấy khô ở nhiệt độ từ 40°C đến 45°C và căn hành vào khoảng 70°C, bảo quản để sử dụng về sau.

 Đặc tính trị liệu:

– Cây Cúc núi Arnica montana đã được sử dụng trong y học dân gian từ nhiều năm, cho khả năng của nó gia tốc chữa lành gia tăng tốc độ hóa sẹo chữa lành vết tím bầm, bong gân, chống viêm, động kinh, say sóng, kích thích mọc tóc.

– Những lá Cây Cúc núi Arnica montana cũng được hút thuốc như thuốc lá, nhưng người ta không biết rõ liệu đây có phải là cho lý do y học không ?

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên