Cây A Ngùy – Ferula Assafoetida

0
505
Bộ Hoa Tán (Apiales)
Họ Hoa Tán (Apiaceae)
Chi Ferula
Loài F. Assa-foetida
Tên khác
A ngu, Ẩn triển, Cáp tích nê, Hình ngu, A ngu tiệt, Ngùy khứ tật, Huân cừ, Ngũ thái ngùy, Xú a ngùy.
Tên khoa học
Ferula assa-foetida L
Cây A Ngùy (Ferula Assafoetida) có tác dụng tiêu tích, sát trùng, giải độc, trừ đờm, kích thích thần kinh, trừ mùi hôi thối, tống hơi độc ra. Trị tích, báng, sốt rét, cam tích, đau bụng, đau tim.
Cây A Ngùy – Ferula Assafoetida

Mô tả: Là loại cây thảo sống lâu năm, cao từ  0,6 – 1m, cuống lá dẹp bao thân cây, lá chẻ, hoa nhỏ mầu vàng. Dược liệu thường dùng là khối mủ ngưng kết lại có hình dạng lớn nhỏ không đều. Mầu tím nâu hoặc  nâu sậm, có khi mầu trắng, vàng. Cứng nhưng khi bóp thì mềm, dính. Có mùi hôi.

Khi xử dụng, chọn loại mầu tím nâu, lâu ngày không bay mầu là tốt.

Loại mầu nâu sậm có lẫn với phiến rễ và cát là  loại hàng thứ phẩm.

Địa lý: Trồng và sản xuất chính ở Ba Tư. Vị thuốc này tại Việt Nam chưa trồng được, còn phải nhập.

Thu Hái:

Theo ‘Trung Dược Đại Tự Điển ‘: Thu hái vào những tháng mùa Đông, trước khi ra hoa. Khi lấy mủ, dùng dao rạch thành rãnh ở vỏ cây, phần trên gốc, lấy lá lớn đậy lại. Mấy ngày sau thì mủ chảy ra và ngưng kết lại,  cách khoảng 10 ngày sau lại làm như vậy để thu mủ rồi để dành dùng.

Phần dùng làm thuốc: Dùng nhựa cây ở phần rễ sau khi nhựa ngưng kết lại (Assafoetida).

Tính vị:

– Vị cay, tính ôn, không độc, mùi hôi nồng

– Quy kinh: Vào hai kinh Tỳ, Vị.

Tác dụng dược lý:

– Trong loại Asafetida có mùi hôi, vị đắng mà cay, ảnh hưởng đến trường vị và hệ hô hấp (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

– Có thể dùng trong các toa thuốc khu phong.

– Ức chế độ cứng của hạch: Nước sắc A ngùy đắp bên ngoài có thể thấm vào các hạch cứng làm cho hạch mềm ra (Trung Dược Đại Từ Điển).

– Ngừa giun: Dùng chung với Lưu Hoàng (Sulfur ), Binh lang (Areca Catechu L.) và Nhục quế(Cinnamomum Sp. ) đổ vào bao tử chuột nhắt có thể làm cho chuột ít mắc phải giun móc (Ankylostome)  (Trung Dược Đại Từ Điển).

– Sử dụng liều cao đến 12g vẫn  không thấy ngộ độc (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

– Tác dụng chống đông máu: Tiêm nước  sắc A ngùy 10% vào tĩnh mạch chuột cống và chó với liều 2,5-10ml/kg thấy có khả kéo dài thời gian đông máu, bình quân 35-56%. Thí nghiệm trong ống nghiệm thấy thời gian ngưng kết huyết tương là 28-41% (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

– Tác dụng kháng bức xạ, tăng bạch cầu, tiểu cầu: A ngùy có tác dụng trị liệu hoặc ngăn ngừa nhiễm phóng xạ cấp, có khả năng nâng cao hoạt xuất của chuột lên ( 30%. Đối với chó bị nhiễm phóng xạ cấp, A ngùy có khả năng giữ được hoạt suất 42,9% (Trung dược dược lý, độc lý dữ lâm sàng).

– Đối với chuột nhắt, A ngùy có tác dụng hoạt huyết, đối với thỏ nhỏ bị trúng độc cấp, thấy có tác dụng làm tăng bạch hoặc tiểu cầu. Thực nghiệm chứng minh rằng A ngùy dùng uống với liều 0,6mg/kg kết hợp với tiêm tĩnh mạch chuột cống liều 100mg/kg hoặc 200mg/kg thấy có tác dụng ức chế ADP ( ngưng kết tiểu cầu).

– Lâm sàng trị chứng bạch cầu suy mỗi ngày dùng 30mg,  tỉ lệ đạt 76,6%, cao nhất đạt 93,3% (Trung Dược Đại Từ Điển).

– Tác dụng phòng chống ung thư: Dùng hợp chất JTc – Z6 thấy có tác dụng ức chế ung thư phát triển, tỉ lệ đạt 90% trở lên (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

– Tác dụng giảm đau, chống co giật: A ngùy có tác dụng với thần kinh, làm mềm gân cơ, chống co giật  (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

– Độc tính: Liều độc LD50 là 125 (75mg/kg. Liều dùng chích là 1520mg/kg, liều uống là 3155mg/kg (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

– Thử nghiệm trên 48 con chó và 26 con thỏ bị ngộ độc A ngùy cấp tính, thấy chức năng gan và điện tâm đồ bị xáo trộn (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

Tác dụng chủ trị:

– Trị các loại giun, trừ mùi hôi, phá báng tích, hạ ác khí (Đường Bản Thảo ).

– Trị các chứng ác khí (Thiên Kim Dực phương ).

– Trị tim và  giữa bụng lạnh (Hải Dược Bản Thảo).

– Trị chứng thi quyết (Cơ thể lạnh như xác chết), phá báng tích, khí lạnh, bụng trướng, sốt rét, hoắc loạn, tim và bụng đau, thận khí, ôn chướng (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

– Giải độc khi ăn phải các loại thịt trâu, dê hoặc  ngựa chết (Bản Thảo Hối Biên).

– Cắt cơn sốt rét, chỉ (cầm) lỵ, giải độc, tan mùi hôi (Bản Thảo Thông Huyền ).

– Tiêu tích, sát trùng, giải độc, tán buổi, tán hàn, khử đờm, kháng bức xạ, kháng ung thư, tăng bạch cầu, chống đông máu, trị Tâm giảo thống (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

– Trị thần kinh suy nhược, phế quản viêm mạn (Tân Cương Trung Thảo Dược Thủ Sách).

– Trị tích báng, trùng tích, nhục tích, tim và bụng đau do hàn, sốt rét, kiết lỵ (Trung Dược Đại Từ Điển).

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên